| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Showing posts with label Sự kiện. Show all posts
Showing posts with label Sự kiện. Show all posts

Tuesday, August 9, 2011

Vu lan thắng hội

Lễ Vu Lan được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật giáo Đại thừa. Theo kinh điển nhà Phật:
Một trong những đệ tử lớn nhất của Phật Thích Ca là ông Đại Mục Kiều Liên, sau khi dùng “thiên nhân thông” đã nhìn thấy mẹ của mình đang ở địa ngục. Thương mẹ phải chịu kiếp đọa đày, đói khát, ông liền dâng lên mẹ của mình bát cơm để mẹ ăn cho đỡ đói lòng.
Hình ảnh bà Thanh Đề chụp ngay bát cơm khi ngài Kiều Liên dâng lên, một tay che không cho người khác thấy vì sợ bị giật mất, tay kia bốc ăn và khi bà vừa đưa miếng cơm lên miệng thì cơm bỗng hóa thành than hồng cháy đỏ không sao ăn được. Mục Kiều Liên vô cùng đau xót trở về xin với Phật cứu mẹ của mình.

Phật thuyết kinh Vu Lan dạy Mục Liên vào rằm tháng 7 hàng năm dâng bát cúng dường chư tăng mới giải thoát mẹ ra khỏi địa ngục. Từ đó có lễ Vu Lan, hội Vu Lan dành cho những người con báo hiếu công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Nguời dân Việt tiếp nhận những tích chuyện này nhưng đã mở rộng ra, biến thành lễ "xá tội vong nhân". Không chỉ là dịp lễ để tỏ lòng thành kính với các bậc sinh thành, cũng không cúng riêng "quỷ miệng lửa" mà cúng tất cả các cô hồn nói chung. Nguời ta cho rằng, những ai khi sống phạm nhiều tội lỗi thì linh hồn sẽ bị xiềng xích chịu đày ải nơi địa ngục. Tuy nhiên, mỗi năm đến dịp rằm tháng Bảy, xiềng gông được mở để mọi cô hồn có dịp trở về dương thế gặp lại người thân, nhận tiền vàng, đồ ăn và quần áo. Mỗi năm một lần, mọi linh hồn, bất kể khi sống thế nào, đến ngày đó vẫn được "xá tội", được hưởng sự yêu thương của đồng loại. Nhà nhà mua sắm đồ vàng mã, nấu cháo loãng, rang bỏng ngô chuẩn bị cúng ngoài trời để đãi "ma đói" - những cô hồn vờ vật không có người thân cúng giỗ.

Giáo sư Hoàng Như Mai nhận xét: "Ngày lễ Vu Lan, ngày Rằm tháng Bảy, ngày xá tội vong nhân có thể được coi là ngày tình thương Việt Nam vì con người, vì cuộc sống hiền hòa, an lạc, tiến bộ cho loại con người".

Hàng năm, tại Việt Nam vào ngày rằm tháng 7, nhiều lượt người từ khắp mọi nơi, thiện nam, tín nữ đến lễ ở các chùa như ngày hội của việc báo hiếu đối với đức sinh thành dưỡng dục. Cùng với việc báo hiếu mẹ cha nhiều địa phương còn tổ chức Lễ cúng thập loại chúng sinh, những cô hồn không nơi thờ phụng...lang thang đây đó.


Thư gửi mẹ mùa Vu Lan

Chẳng biết tự lúc nào con biết nghĩ về mẹ một cách chân thành, tự khi nào con thấy thương mẹ hơn tất cả. Dù giờ con cũng đã là một người mẹ, nhưng mẹ vẫn là người mẹ tuyệt vời nhất trong tâm tưởng, trong trí nhớ và trong những kỷ niệm của con.

18 tuổi con vào đại học, mẹ hãnh diện lắm. Nhưng những ngày đầu xa con, chiều nào đi làm về, mẹ cũng ngồi sau thềm lặng khóc. Mẹ lôi trong tủ chiếc áo con vẫn thường mặc để ngắm, để ngửi cho đỡ nhớ. Mẹ vẫn bảo mẹ sinh con ra để “chấy rận” về già khi mà các anh chị con đã thoát ly.

22 tuổi con tốt nghiệp ra trường. Con bắt đầu biết suy nghĩ, biết thương mẹ nhiều hơn, nhưng vẫn còn coi mẹ “lẩm cẩm” mỗi khi mẹ nhắc nhở con điều này điều nọ. Mỗi lần con về, mẹ vui đến quên ăn. Cứ chiều thứ 7 mẹ lại nhắc “không biết tuần này cô Út về không”. Thấy tiếng còi xe, mẹ lại lập cập chạy ra cổng, chắc mẹ thất vọng lắm nếu đó không phải là con của mẹ đã về!

25 tuổi con về nhà chồng. Ngày tiễn con mắt mẹ rơm rớm nước. Hình ảnh đó khắc sâu trong tâm trí của con để rồi đêm đầu tiên về nhà người ta, con đã khóc, khóc rất nhiều.

Thành con nhà người rồi con mới chợt nghĩ mình chưa làm được gì để báo hiếu mẹ cha. Nhìn khuôn mặt mẹ mỗi ngày khắc thêm những nếp nhăn, con càng biết trân trọng hơn những ngày được ở bên mẹ mỗi năm Tết về. Còn mẹ, mẹ vẫn mong con khắc khoải...

Khi nghe tin con sắp sinh, mẹ lặn lội cả trăm cây số xuống với con. Vì sợ con tủi, vì lo con sinh khó, mẹ vội vàng đi ngay giữa đêm đông gió rét để rồi bị cảm nặng, nhưng mẹ có nề hà gì. Mẹ đã quen vất vả cả mấy chục năm rồi để 10 anh chị em chúng con khôn lớn.

Rồi cha ngã bệnh. Mẹ lại tất tả trở về bên cha. Để chúng con yên tâm công tác, mẹ đã giành hết phần chăm cha. Năm năm trời mẹ từ bỏ “già vui chùa” để lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho cha, không một lời than vãn.

Cứ tưởng cha mẹ được “bách niên giai lão” bên nhau, nhưng cha đã mãn nguyện ra đi thanh thản. Mẹ đã quen có cha sớm tối, nên ảo tưởng lúc nào cũng có cha bên cạnh.

Mẹ mời cha về ăn cơm mỗi bữa mà như cha đang quanh quẩn đâu đây. Trong mỗi giấc ngủ trưa, ngủ tối mẹ vẫn ú ớ gọi cha, vẫn đáp lại những tiếng cha gọi mẹ trong ảo vọng. Cha hiền lành, đức độ - đó là món quà nhân duyên trời ban cho mẹ. Nhìn mẹ con hiểu phải tình nghĩa lắm mẹ mới có thể như thế. Một năm sau ngày cha ra đi, tết đến mẹ thắp hương vẫn khóc, vẫn gọi cha tha thiết khi chúng con về đông đủ.

Con gái con được sáu tuổi cũng là lúc chuyện gia đình con tan vỡ. Mẹ khuyên con gắng chịu đựng, vì con của con, vì truyền thống gia đình. Con không muốn đến tuổi thất thập mà mẹ vẫn phải bận lòng về con cái, và con đã chịu đựng, đã cố gắng. Lòng thương người và sự nhẫn nhịn con thừa hưởng ở mẹ. Nhưng mọi cố gắng của con đều không được đền đáp. Con đành nói lời xin lỗi mẹ. Mẹ khóc, khóc thật nhiều. Con đau lòng lắm. Nhưng thương con, xin mẹ hãy hiểu và chia sẻ cùng con…

Mẹ vẫn bảo mẹ là người tỷ phú về con. Trong tay mẹ có tất cả 20 đứa con trai, gái, dâu, rể, 23 đứa cháu nội ngoại, 7 đứa chắt... Con số tròn trĩnh 20 người con của mẹ giờ thiếu một người. Con đau lắm khi biết mẹ vì con gái út mà vẫn đau đáu. Nhưng mẹ ơi, Út của mẹ giờ cũng đã lớn khôn, nó vẫn làm đúng theo những gì mẹ dạy, vẫn sống chân tình giữa tất cả sự yêu ghét của cuộc đời.

Con chợt nhớ câu: “Con không đợi đến ngày kia mất mẹ mới giật mình khóc lóc. Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ…”. Vâng, con sẽ làm mọi điều cho mẹ bớt những đau khổ. Con sẽ cố gắng để mẹ thấy con gái của mẹ không thành DANH nhưng thành NHÂN mẹ nhé!

Thanh Phượng

Monday, August 1, 2011

Vụ án Lệ Chi Viên

Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải, là vụ án mà Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc.
Vụ án
Ngày 27 tháng 7, 1442 (năm Nhâm Tuất), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc.
Truyền thuyết

Có truyền thuyết một thời cho rằng lúc (theo truyền thuyết thì cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cho học trò phát cỏ ở ngò để làm chỗ dạy học cho học trò chứ không phải là Nguyễn Trãi) Nguyễn Trãi còn dạy học có dự định cho học trò phát hoang khu vườn, đến đêm nằm mơ thấy một người đàn bà với bầy con dại tới xin ông cho thư thả ít hôm mới dọn nhà vì con mọn, sáng ra khi học trò của ông phát cỏ vườn nhà thì đánh chết một bầy rắn, lúc đó ông mới hiểu ra ý nghĩa giấc mơ, ông than thở, cho chôn bầy rắn và cho học trò biết là loài rắn thường hay thù dai, thế nào cũng trả thù ông. Đêm đó, lúc ông đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà nhỏ một giọt máu thấm vào chữ "đại" ("đời") qua ba lớp giấy ứng với việc gia tộc ông bị hại đến ba đời. Ngày sau con rắn hóa ra bà Nguyễn Thị Lộ dụ dỗ ông, hại ba đời nhà ông và biến thành rắn bò đi khi bà Nguyễn Thị Lộ bị dìm xuống sông.


Nhiều người tin rằng truyền thuyết này nhằm đổ tội cho bà Nguyễn Thị Lộ, giải thích nguyên nhân tiền định về cái chết của vua Lê Thái Tông và Nguyễn Trãi, xoa dịu lòng tiếc thương Nguyễn Trãi và chán ghét nhà Lê nhỏ mọn đối với công thần. Họ cho rằng đây là thuật tuyên truyền của tầng lớp thống trị hồi đó lợi dụng lòng mê tín của nhân dân. Ngày nay truyền thuyết này bị bác bỏ và không được xác chứng..
Nguyên nhân

Đến nay, nhiều nhà sử học đã đi đến thống nhất về nguyên nhân đích thực của vụ thảm án này. Chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Ngôi thái tử

Ngoài suy đoán căn cứ vào sử sách, mới đây các nhà nghiên cứu tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê (công bố trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử" của Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ) và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại. Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông.
Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nguyễn Thị Anh là mẹ của Bang Cơ.

Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Bà này được vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442.

Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án.

Theo sử sách, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con, ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói: "Ta hối không nghe lời Thắng, Phúc". Các nhà nghiên cứu cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này.

Chính bởi ngôi vua của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm 1459, con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "Diên Ninh (niên hiệu của vua Nhân Tông) vốn không phải là con của tiên đế (Thái Tông)..."

Dù sao đi nữa, chuyện Bang Cơ có phải con vua Thái Tông thực hay không nhưng cũng như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là "nghịch", là trái lẽ.

Về các bài thơ của Đinh Liệt
Trong cuốn “Ngọc phả họ Đinh” do công bộ thượng thư Đinh Công Nhiếp, con trai đầu của thái sư Đinh Liệt, có một số bài thơ do Đinh Liệt viết có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên.

Bài thơ Nôm nhận xét về Lê Thái Tông:
Tống Thai dáng dấp một anh quân
Đắc sắc say chơi biếng kiệm cần
Hoạ tự trong nhà nhô đầu mọc
Di căn bệnh hoạn hại cho thân

Trong bài này Đinh Liệt buộc phải dùng phép nói lái: Tống Thai tức là Thái Tông Lê Nguyên Long. Vua là một “anh quân” khi vì ông biết ngăn ngừa cường thần, dẹp phiên trấn, sùng nho, mở thi cử, song lại quá ham tửu sắc. Về “hoạ tự trong nhà”, Đinh Liệt có bài thơ:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa
Bất thức hà nhân chủng bảo đa
Chủ kháo Tống khai vi linh dược
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa

“Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức là Bang Cơ, con Nguyễn Thị Anh, “thịnh y” là “thị Anh”. Bài này có thể tạm dịch:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Trước khi vào cung, Thị Anh đã gian díu với Lê Nguyên Sơn, một người thuộc họ xa của dòng dõi Lê Khoáng (cha Lê Lợi). Một bài thơ khác, Đinh Liệt viết:

Tống Thai mạc kiến nguy ký hiện
Nịch ái Thịnh y nhật nhật tăng
Mỹ sắc điềm ngôn gia phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp hải hà băng

Dịch là:

Thái Tông chẳng thấy nguy đã hiện
Say đắm Thị Anh cứ mãi tăng
Sắc đẹp lời ngon kèm phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp có ngày băng

Việc Thị Anh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng được Đinh Liệt viết trong bài thơ mà nhiều người cho rằng vì chính hai người này đã mật báo cho ông và Nguyễn Trãi biết:

Nhung Tân hà hữu Tống thai tinh
Lục nguyệt khai hoa quái dị hình
Niên nguyệt nhật thời Thăng Đính ký
Hoàng bào ô nhiễm vạn niên thanh
chữ Thăng Đính đọc ngược là Đinh Thắng

Dịch là:

Nhân Tông không phải máu Nguyên Long
Sáu tháng hoài thai cảnh lạ lùng
Năm, tháng, ngày, giờ Đinh Thắng chép
Hoàng bào dơ bẩn tiếng ngàn năm

Với cách gọi các vua bằng miếu hiệu như Thái Tông, Nhân Tông, chắc chắn các bài thơ này Đinh Liệt viết vào thời Lê Thánh Tông. Dù Nhân Tông và thái hậu Nguyễn thị đã chết nhưng việc này vẫn không thể nói công khai, vì trên danh nghĩa, ngôi vua của Nhân Tông vẫn là hợp pháp. Có như vậy, việc cướp ngôi của Lê Nghi Dân mới là "phản nghịch" và việc lên ngôi của Thánh Tông mới là hợp lẽ. Đây chính là nguyên nhân khiến Đinh Liệt phải dùng phép nói ẩn ý để truyền lại cho đời sau.

Tuesday, May 31, 2011

Gió đưa cây cải về trời

Cải là tên dân dã của một Hoàng tử con của Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long), Răm là tục danh của bà Phi Yến (Lê Thị Răm), vợ thứ của ông này. "Gió đưa cây cải về trời, / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay" là câu ca dao dân gian đặt ra để bày tỏ lòng thương cảm đối với bà Phi Yến, một phụ nữ tài sắc, giàu lòng yêu nước.

Sự tích của câu ca dao trên như sau:

Để đánh lại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh dự định gởi con cả là Hoàng tử Cảnh đi theo cố đạo Pháp (Bá Đa Lộc) sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến (Lê Thị Răm) là vợ thứ của Nguyễn Ánh đã can ngăn chồng, đừng làm việc "cõng rắn cắn gà nhà" để người đời chê trách. Nguyễn Ánh không những không nghe lời khuyên của Bà mà còn tức giận, nghi Bà thông đồng với quân Tây Sơn, nên định giết Bà. Nhờ quần thần can xin, Nguyễn Ánh đã tống giam Bà vào một hang đá trên đảo Côn Lôn nhỏ. Khi quân Tây Sơn đánh ra đảo, Nguyễn Ánh bỏ chạy ra biển, Hoàng tử Cải (còn gọi là Hoàng tử Hội An), con Bà Phi Yến lúc đó mới 4 tuổi đòi mẹ đi cùng. Trong cơn tức giận, Nguyễn Ánh đã ném con xuống biển. Xác Hoàng tử Cải đã trôi vào bải biển Cỏ Ống. Dân làng đã chôn cất Hoàng tử. Bà Phi Yến, theo truyền thuyết, được một con vượn và một con hổ cứu ra khỏi hang và về sống với dân làng Cỏ Ống để trông nom mộ Hoàng tử Cải. Một lần sau khi bị một kẻ xấu xúc phạm, Bà đã tự tử để thủ tiết với chồng.

Hiện nay ở Côn Đảo vẫn còn ngôi miếu An Sơn do dân đảo dựng vào năm 1785 (đến năm 1958 đã được xây dựng lại) để thờ bà Phi Yến.

Thursday, July 29, 2010

Sự kiện Vịnh Bắc bộ

Tài liệu mới giải mật của Hoa Kỳ tái khẳng định Việt Nam không hề tấn công tàu chiến Mỹ ở Vịnh Bắc bộ hồi tháng Tám năm 1964, sự kiện đã khiến Tổng thống Lyndon Johnson quyết định leo thang cuộc chiến.
Sự kiện vịnh Bắc Bộ là sự kiện được cho là hai cuộc tấn công của Hải quân Nhân dân Việt Nam chống lại hai tầu khu trục USS Maddox và USS Turner Joy của Hải quân Mỹ. Hai cuộc tấn công được cho là đã xảy ra vào các ngày 2 tháng 8 và 4 tháng 8 năm 1964 trong vịnh Bắc Bộ.
Trong một cuốn băng thu âm được giải mật năm 2001, tổng thống Lyndon B. Johnson thừa nhận rằng vụ thứ hai trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ chưa hề xảy ra.
Các nghiên cứu sau này, trong đó có một báo cáo năm 2005 của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ khẳng định cuộc tấn công thứ hai đã không xảy ra. Báo cáo này cũng đã cố gắng xua đi giả thuyết từ lâu rằng các thành viên của nội các tổng thống Lyndon B. Johnson đã cố tình nói dối về bản chất của sự kiện này..
Đầu tháng 1 năm 2008, Hiệp hội các nhà khoa học Hoa Kỳ (FAS) cho biết Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã giải mật bản báo cáo Spartans in Darkness trong đó khẳng định Hải quân Nhân dân Việt Nam không hề tấn công tàu chiến Hoa Kỳ trong đêm 4 tháng 8 năm 1964.
Theo AFP, tài liệu vừa được Ủy ban An ninh Quốc gia công bố cũng nói Việt Nam từng thâm nhập hệ thống liên lạc của Mỹ và gọi những cú điện thoại giả để Mỹ tấn công quân của chính mình.
Hãng tin Pháp nói Hiệp hội Khoa học gia Mỹ cho hay Ủy ban An ninh Quốc gia, cơ quan tham gia phụ trách việc phá mật mã và nghe lén của Hoa Kỳ đã giải mật các tài liệu sau khi có đề nghị liên quan tới thông tin buộc phải giải mật.
Báo cáo 500 trang của Hiệp hội mang tên Spartans in Darkness (tạm dịch là Chiến binh trong Bóng tối) được coi là câu chuyện về cuộc chiến Việt Nam từ khía cạnh 'tình báo tín hiệu', từ bức điện tín đầu tiên - thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi chủ tịch Joseph Stalin - cho tới lần di tản cuối cùng các điệp viên Mỹ khỏi Sài Gòn.
Không hề có
Nói về sự kiện Vịnh Bắc bộ mà chính quyền Mỹ từng cáo buộc Việt Nam gây ra vụ tấn công chiến hạm Mỹ đêm ngày 2 tháng Tám năm 1964, thông báo của Hiệp hội Khoa học gia Mỹ nói:
''Thông tin giải mật cho thấy không những nó không đúng, như Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara nói với Quốc hội rằng bằng chứng của vụ tấn công là ''không thể luận cứ'' được, mà trái lại các thông tin tình báo tín hiệu chứng minh rằng 'không có vụ tấn công nào trong đêm đó.''
Ông Steven Aftergood, Giám đốc dự án về bí mật chính phủ của Hiệp hội Khoa học gia được AFP trích lời nói thêm:
''Điều mà nghiên cứu này cho thấy là những thông tin tình báo có được chứng tỏ rằng không có vụ tấn công nào.
''Đây là sự đảo ngược hoàn toàn các chi tiết lịch sử.
''Trước đây đã có những dấu hiệu về chuyện này nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta có một nghiên cứu đầy đủ.''
Hoa Kỳ cũng từng cáo buộc Việt Nam có cuộc tấn công tàu chiến Mỹ lần hai vào ngày 4 tháng Tám nhưng từ lâu nay người ta đã khẳng định rằng đây là điều 'thêu dệt'.
Thâm nhập
Báo cáo mới cũng được AFP trích lời nói rằng các đơn vị tình báo Bắc Việt Nam đã có những lần thâm nhập được vào hệ thống liên lạc của Hoa Kỳ và nghe được thông tin từ bên trong.
Dựa vào các thông tin này một số lần ''phía cộng sản đã có thể dùng mạng radio của Liên quân để điều động pháo binh hay các cuộc không kích của Liên quân nhắm vào các đơn vị Hoa Kỳ.''
Ông Aftergood nói với hãng tin Pháp: ''Đây là điều tôi chưa nghe nói tới bao giờ.
Nhưng ông Aftergood vẫn khẳng định sự kiện có ý nghĩa lịch sử nhất vẫn là chuyện thuật lại sự kiện Vịnh Bắc bộ dựa trên các thông tin 'tình báo tín hiệu'.
Sau những tuyên bố của chính quyền Johnson hồi bấy giờ về các vụ tấn công của Miền Bắc, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Nghị quyết Đông Nam Á mà Nhà Trắng đã dựa vào để đưa thêm quân vào Việt Nam.
Hơn 58.000 lính Mỹ sau đó đã thiệt mạng và cuộc chiến kéo dài tới năm 1973 khi Hoa Kỳ rút quân theo hiệp định Paris.
Sự kiện Vịnh Bắc bộ và Hồ sơ về Vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq gần đây đã khiến cho có nhiều lời kêu gọi các nhà báo Mỹ đặt nhiều câu hỏi hơn với những thông tin của các quan chức chính phủ Hoa Kỳ.
Hậu quả
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngay sau sự kiện thứ 2, hải quân Mỹ trả đũa bằng chiến dịch Mũi Tên Xuyên ném bom một số cửa biển quan trọng ở miền Bắc Việt Nam, chiến dịch này đã mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại 9 năm bằng không quân và hải quân quy mô lớn đối với miền Bắc Việt Nam.
Ngày 7 tháng 8 năm 1964, 3 ngày sau sự kiện thứ 2, Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Đông Nam Á (được biết nhiều hơn với cái tên Nghị quyết vịnh Bắc Bộ) cho Johnson quyền hỗ trợ bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào mà chính phủ nước đó được xem là bị đe dọa bởi "sự hiếu chiến của cộng sản". Nghị quyết này đã trở thành sự biện minh hợp pháp cho việc Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam.

Bài đăng gần đây